No-Mind

January 17, 2009

“Tôi chỉ là một đứa bé” (phần 2)

Filed under: Kiến thức xã hội — HTQ @ 12:51 am

Vào tháng 9/ 1995, khi tôi sắp sửa bước vào năm học mới của lớp 8, mẹ tôi kéo tôi ra một bên để nói chuyện. Khi Tổ chức Giải phóng Trẻ em bắt đầu phát triển, nhà của chúng tôi bị các tình nguyện viên xâm chiếm, bọn trẻ ngủ khắp nơi trên ghế và sàn nhà, và chuông điện thọai reng bất kể giờ giấc. Mẹ tôi nói, “Không thể tiếp tục như vầy được. Chúng ta phải quay lại sống như một gia đình bình thường, sống cuộc sống bình thường.”

Nhưng làm cách nào tôi có thể từ bỏ một công việc khi mà tôi chỉ mới bắt đầu?

Ba mẹ đã gieo trong tôi niềm tin rằng những mục tiêu mà ta theo đuổi luôn đi cùng với những thách thức. Ba mẹ tôi luôn cổ vũ tôi thực hiện các mơ ước của mình, “thất bại duy nhất trong đời là khi con bỏ cuộc trước khi con thử.” Mà đây chính là những gì tôi đang làm, nhưng tôi đóan là ba mẹ không lường trước được những gì tôi và Marc sẽ làm với những bài học mà ba mẹ dạy.

Tôi xin mẹ cho tôi thời gian để suy nghĩ.

Tôi ngồi trong phòng ngủ của mình và cố gắng suy tính xem tôi nên từ bỏ tổ chức hay nên tiếp tục. Tôi nghĩ đến niềm hạnh phúc của mình khi được làm việc chung với một nhóm những người cùng theo đuổi chung một mục đích. Tôi có cảm giác của người thành đạt và hạnh phúc. Chưa bao giờ trong cuộc đời mình tôi cảm giác hạnh phúc như vậy. Tổ chức Giải phóng Trẻ em cũng đang lấp đầy khỏan trống trong cuộc đời của nhiều trẻ em trên thế giới. Ở cái tuổi mà chúng tôi luôn bị người lớn ra lệnh phải làm cái này, phải làm cái kia, thì đây chính là điều mà chúng tôi tự nguyện làm mà không cần bị ai sai khiến. Trong thâm tâm tôi biết mình không thể quay lưng từ bỏ công tác này. Có quá nhiều thứ tôi sẽ bị mất. Tôi không còn là đứa bé cách đây 5 tháng. Hơn nữa, còn có quá nhiều việc để làm. Khi tôi bước ra khỏi phòng, tôi xin lỗi mẹ rằng tôi không thể từ bỏ công việc đang làm. “Mẹ luôn bảo chúng con rằng chúng con phải tranh đấu cho những gì mình tin tưởng. Đây chính là những gì con tin tưởng.”

Trước sự ngạc nhiên của tôi, ba mẹ tôi hiểu. Tôi nghĩ họ thậm chí còn cảm thấy tự hào. Sau này, tôi mới biết rằng nguồn gốc của sự thông hiểu của cha mẹ bắt nguồn từ sự dạy dỗ của ông bà nội, ngọai từ những thế hệ trước.

… Mặc dù cha mẹ tôi không phải là những nhà họat động xã hội, nhưng cả hai đều là những giáo viên tận tâm, luôn tin rằng việc dạy học không chỉ diễn ra bên trong lớp học mà còn ở bên ngòai xã hội. Bất cứ khi nào có cơ hội, cha mẹ tôi đều cố gắng giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về thế giới và chúng tôi có thể làm gì để biến nó trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống. Những bài học này không cần phải tham gia diễu hành hay tuần hành phản đối, chúng đơn giản hơn vậy nhiều. Khi chúng tôi đặt câu hỏi về môi trường, cha mẹ sẽ dẫn chúng tôi đi nhặt rác trong công viên vào buổi chiều. Một câu nhận xét về Tổ chức Nhân đạo sẽ dẫn đến việc cha mẹ thách chúng tôi có dám để dành một phần tiền tiêu vặt để giúp các con thú bị bỏ hoang mà chúng tôi thấy trên tivi.

Truyền thống giúp đỡ người khác này đã thuyết phục cha mẹ tôi. Họ biết cần phải đấu tranh cho lý‎ tưởng và ước mơ. Căn nhà chúng tôi tiếp tục bừa bộn và Tổ chức Giải phóng Trẻ em tiếp tục phát triển.

Nhưng nếu như họ biết chuyện sắp xảy ra, không chừng họ đã thay đổi ‎quyết định‎.

Cho tới thời điểm đó, tôi vẫn thường xuyên nói chuyện với Alam Rahman, một sinh viên 24 tuổi ĐH Toronto và đồng thời là một người tham gia các họat động xã hội. Anh ấy đóng vai trò như người “đỡ đầu” cho tôi. Tôi tâm sự với anh rằng tôi cảm thấy một số những tuyên bố của tôi về nạn bóc lột sức lao động trẻ em thiếu sức thuyết phục vì tôi chưa bao được giờ tận mắt chứng kiến tệ nạn này. Chúng tôi vẫn thường nói chuyện với nhau về việc liệu tôi có nên thực hiện một chuyến sang châu Á để tận mắt chứng kiến thực tế. Tôi thật sự chẳng bao giờ tin là việc này sẽ xảy ra—vì tôi đã xin xỏ cha mẹ tôi hàng tháng ròng mà chẳng có kết quả gì.

Vào một ngày nọ, Alam thông báo với tôi là anh đang chuẩn bị sang Nam Á để thăm bà con, liệu tôi có muốn đi cùng? Cha mẹ tôi không bao giờ biết được chuyện gì đã xảy ra. Tôi quấy rầy cha mẹ hàng mấy tuần. May mắn là cha mẹ tôi đánh giá cao Alam và cuối cùng mẹ tôi nói, “Con phải thuyết phục được mẹ là con sẽ được an tòan.”

Nếu tôi có thể chứng minh cho mẹ tôi rằng tôi sẽ không sao, rằng chuyến đi sẽ được lên kế họach kỹ càng và mọi thứ đều được suy tính cẩn thận, thì mẹ tôi sẽ cho phép tôi được đi. Thế là tôi bắt đầu gởi fax cho các tổ chức khắp vùng Nam Á thông báo với họ rằng tôi sẽ đến, nộp đơn xin visa du lịch, và quyên tiền bằng cách làm các công việc nhà và nhờ vào sự hào phóng của bà con. Rồi, với sự đồng ‎ý của cha mẹ, tôi đánh dấu ngày lên đường vào trong lịch của mình.

Kế họach của tôi là một chuyến đi dài 7 tuần để gặp gỡ các trẻ em đang làm việc trong những điều kiện vô nhân đạo nhất mà con người có thể tưởng tượng. Chúng tôi gặp các trẻ em làm việc trong nhà máy thép, đổ thép nóng chảy mà không có đồ bảo hộ lao động. Chúng tôi gặp các trẻ em chỉ mới 5 tuổi trong các lò gạch, làm việc để trả nợ thay cho cha mẹ hay ông bà và nợ được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng tôi gặp một cậu bé 10 tuổi làm việc trong một nhà máy pháo bông, bị phỏng nặng khắp người trong một vụ nổ làm chết 14 đứa trẻ khác. Trong một lần khác, chúng tôi gặp một cô bé 8 tuổi làm việc trong một nhà máy tái chế, phải tháo các ống tiêm và kim chích bằng tay không.

Trạm dừng đầu tiên của tôi là Dhaka, Bangladesh, tại đây chúng tôi được đưa tới một trong những khu ổ chuột lớn nhất trong thành phố, toàn bộ vùng thung lũng đầy các nhà bằng giấy carton, bằng lau sậy bện lại, hay bằng mái tôn. Những người sống ở đây hầu như chẳng có một thứ tài sản gì. Quần áo của họ rách rứơi. Phân người và phân thú tràn đầy trong các rãnh cống. Hầu như không có thức ăn. Khi chứng kiến cái nghèo thảm hại này, tôi chỉ muốn ở lại đây hết 7 tuần và tình nguyện làm điều gì đó, vì vậy tôi hỏi một nhân viên họat động xã hội tại đó làm cách nào tôi có thể giúp đỡ họ. Anh ta trả lời tôi, “Cứ tiếp cuộc hành trình của em. Biết được càng nhiều càng tốt. Sau đó quay về nước và kể cho mọi người nghe về những gì em đã thấy và hỏi họ xem liệu có công bằng không khi trên thế giới tồn tại những nơi như vậy. Bởi vì chính sự thờ ơ và từ chối không giúp đỡ của những người ở nhà mà điều này vẫn tiếp tục.”

Sau đó ở New Dehli, tôi được chứng kiến và hiểu được cuộc sống của các trẻ em đang bị bóc lột sức lao động. Cùng lúc đó, tôi được biết thủ tướng Canada cũng đang có mặt ở đó, cùng với 8 nhà lãnh đạo vùng và 250 doanh nghiệp hàng đầu để thương thảo về các hiệp định thương mại. Các thành viên của Tổ chức Giải phóng Trẻ em đã nhiều lần yêu cầu thủ tướng chú tâm đến vấn đề này nhưng không có hiệu quả. Chúng tôi đã viết thư và yêu cầu được gặp gỡ thủ tướng nhưng câu trả lời chúng tôi nhận được là một bức thư thông báo rằng thủ tướng rất bận và không thể gặp gỡ tổ chức của chúng tôi. Giờ đây, sau tất cả những gì tôi đã được chứng kiến, tôi hòan tòan tin rằng nếu như ông ta biết được chỉ một trong những câu chuyện đau lòng mà tôi biết thì chắc chắn ông sẽ đồng ý giúp. Tôi thu hết can đảm và quyết định chúng tôi cần làm tất cả những gì chúng tôi có thể để bảo đảm những câu chuyện về các trẻ em đang bị bóc lột sức lao động được lắng nghe. Cuối cùng, chúng tôi quyết định tổ chức một cuộc họp báo.

Lúc đó tôi chỉ mới 13 tuổi. Trong trí óc tôi, vấn đề mà chúng tôi đang đấu tranh là một vấn đề thuộc về lẽ phải. Tôi phẫn nộ khi thủ tướng nước tôi đang ký những hợp đồng trị giá hàng tỉ đôla mà không hề nhắc đến những trẻ em đang làm ra những sản phẩm nằm trong các hợp đồng ấy.

No Comments Yet »

No comments yet.

RSS feed for comments on this post.

Leave a comment

Blog at WordPress.com.