Người đó là Thales của xứ Miletus, là nhà triết học Hy Lạp cổ đại sống vào thế kỷ thứ 6 TCN, được coi là cha đẻ của triết học Hy Lạp và được xếp vào nhóm bảy nhà hiền triết Hy Lạp vĩ đại trước thời Socrates.
Có giai thoại kể lại rằng có một hôm ông đang đi trên đường, do quá chăm chú quan sát trăng sao và bầu trời trên đầu nên bị té xuống một giếng nước. Có mấy cô đầy tớ gái của các gia đình quyền quý gần đó thấy vậy bật cười chế nhạo ông là đồ dở hơi, chuyện dưới đất ngay trước mặt và ngay dưới chân thì không biết mà chỉ muốn biết những chuyện đâu đâu trên trời.
Thân phận của các triết gia thời Hy Lạp cổ đại xem ra cũng không khác mấy so với các nhà triết gia thời nay bao nhiêu. Xã hội Hy Lạp cổ đại không dành sự kính trọng cho những người rảnh rỗi suốt ngày chỉ bận tâm suy nghĩ đến những chuyện vớ vẩn mà không quan tâm đến những chuyện thực tế có thể giúp họ hái ra tiền.
Người ta còn kể một câu truyện khác về Thales như sau. Bị những người xung quanh chế nhạo là đãng trí và phi thực tế, ông bèn tìm cách chứng minh cho họ thấy điều ngược lại. Năm đó, nhờ nghiên cứu thiên văn nên ông đoán trước thời tiết trong năm tới sẽ rất tốt và mùa olive sẽ được bội thu. Thế là mặc dù lúc đó còn sớm, Thales bỏ tiền ra đi thuê trước tất cả các máy ép olive ở khắp các vùng xung quanh. Năm đó, mùa thu hoạch olive được bội thu thật và tất cả nông dân trồng olive đều cần phải dùng đến máy ép olive và phải thuê máy của Thales. Vì là người nắm độc quyền, nên ông hoàn toàn tự do quyết định nâng giá cho thuê và đã kiếm được một khoản lời đáng kể qua vụ này. Nhưng ông làm việc này chỉ có một lần, và không bao giờ làm một việc gì tương tự như thế. Chẳng qua ông muốn chứng minh cho mọi người thấy rằng nếu muốn thì một triết gia cũng có thể kiếm tiền làm giàu được, nhưng đó chẳng phải là mục tiêu đáng để họ theo đuổi. Mục đích cuộc sống của họ chẳng phải để chạy theo đồng tiền.
Socrates cho rằng những người lúc nào cũng nghĩ đến công việc, kinh doanh, tiền bạc, quyền lực là những kẻ “còi cọc” và “lương lẹo”. Họ có thể thành công, giàu có và miệng lưỡi nhưng “tâm hồn thì nhỏ bé và ma mãnh và thủ đoạn”. Những triết gia thì lại khác, chính vì họ dành toàn bộ tâm trí và cuộc đời để nghiên cứu và tìm hiểu những thứ vô bổ và phi thực tế như Chân, Thiện, Mỹ, nên họ chẳng hề bận tâm đến những cái gọi là “quy luật bất thành văn của xã hội,” tức những quy ước và tập tục đạo đức chi phối đời sống xã hội. Chẳng hạn như gặp người giàu sang quyền lực thì phải biết khúm núm, lễ độ, gặp người có địa vị, chức vụ thì phải biết xã giao, nịnh nọt, hay gặp người nổi tiếng như Bill Gates thì phải biết cách bắt tay cho thật lâu để chụp được một tấm ảnh đẹp v.v. Một triết gia không bận tâm đến địa vị hay đặc quyền của bất kỳ một ai, và cũng không sợ hãi trước ý kiến của một người khác chỉ vì hắn ta có địa vị, chức vụ, quyền lực.
Socrates bị buộc tội phỉ báng thần linh và làm đầu độc giới trẻ thành Athens và phải uống thuốc độc tự tử, Giordano Bruno bị thiêu sống trên giàn lửa với tội danh dị giáo, Spinoza bị cộng đồng người Do Thái ở Amsterdam tẩy chay và rút phép thông công vào 1656 vì những quan điểm cấp tiến, cho tới Bertrand Russel bị tòa án ngăn cấm không cho dạy học ở City College of New York năm 1940 vì những cáo buộc về sự vô thần và vô đạo đức của ông––tất cả là những ví dụ cho thấy ngành triết học và những người tạo dựng ra nó vẫn luôn bị gắn liền với tội phỉ báng thánh thần, vì sự không biết điều của họ, vì họ không chạy theo đám đông, không tung hô và quỳ lạy những tập quán, giá trị xã hội phổ biến đương thời. Có lẽ vì bản chất của triết học là dám đi ngược lại đám đông, dám thách thức, khiêu chiến với những định kiến của cộng đồng mà người Việt và văn hóa Việt từ cổ chí kim đến nay vẫn chưa cho ra đời một triết gia thực thụ nào?
(Gần như toàn bộ các ý tưởng trong bài trên được rút ra và triển khai từ bài viết này: What is a philosopher? )

hi,hay thầy ạ!
Comment by Anonymous — August 30, 2011 @ 4:34 pm |