No-Mind

January 17, 2009

“Tôi chỉ là một đứa bé” (phần 2)

Filed under: Kiến thức xã hội — HTQ @ 12:51 am

Vào tháng 9/ 1995, khi tôi sắp sửa bước vào năm học mới của lớp 8, mẹ tôi kéo tôi ra một bên để nói chuyện. Khi Tổ chức Giải phóng Trẻ em bắt đầu phát triển, nhà của chúng tôi bị các tình nguyện viên xâm chiếm, bọn trẻ ngủ khắp nơi trên ghế và sàn nhà, và chuông điện thọai reng bất kể giờ giấc. Mẹ tôi nói, “Không thể tiếp tục như vầy được. Chúng ta phải quay lại sống như một gia đình bình thường, sống cuộc sống bình thường.”

Nhưng làm cách nào tôi có thể từ bỏ một công việc khi mà tôi chỉ mới bắt đầu?

Ba mẹ đã gieo trong tôi niềm tin rằng những mục tiêu mà ta theo đuổi luôn đi cùng với những thách thức. Ba mẹ tôi luôn cổ vũ tôi thực hiện các mơ ước của mình, “thất bại duy nhất trong đời là khi con bỏ cuộc trước khi con thử.” Mà đây chính là những gì tôi đang làm, nhưng tôi đóan là ba mẹ không lường trước được những gì tôi và Marc sẽ làm với những bài học mà ba mẹ dạy.

Tôi xin mẹ cho tôi thời gian để suy nghĩ.
(more…)

January 10, 2009

“Tôi chỉ là một đứa bé” (phần 1)

Filed under: Kiến thức xã hội — HTQ @ 12:02 am

Câu chuyn ca Craig: “Tôi ch là mt đa bé”

Nguồn: Chương 1, từ sách “Me to We: Finding Meaning in a Material World” của hai anh em Craig Kielburger and Marc Kielburger.

Suy cho cùng, con người không nên hỏi người khác ý nghĩa cuộc đời là gì mà phải tự mình đưa ra câu trả lời cho bản thân.

— Viktor E. Frankl

Đối với một số người, cuộc sống của họ thay đổi một cách chậm chạp, từ từ. Đối với một số khác, cuộc sống của họ thay đổi chỉ trong một tích tắc.

Giây phút đối diện với sự thật của tôi xảy ra vào một buổi sáng khi tôi mới 12 tuổi ngồi ăn tô ngũ cốc. Lúc đó tôi đang ngồi trong nhà bếp, miệng nhai nhóp nhép và sắp sửa vục đầu vào tờ báo hàng ngày để đọc mục chuyện tranh ưa thích nhất của mình. Xem truyện biếm họa là nghi thức không thể thiếu vào mỗi sáng của tôi. Nhưng sáng ngày hôm ấy, 19 tháng tư năm 1995, tôi không thể dời mắt khỏi trang đầu với dòng tin không thể không đọc: Đấu tranh chống nạn bóc lột sức lao động trẻ em, bé trai 12 tuổi bị giết chết.

Tôi đọc phần tiếp theo.

Islambad, Pakistan (Hãng tin AP). Khi Iqbal Masih được 4 tuổi, bố mẹ em bán em làm nô lệ để lấy không đầy 16 đôla. Sáu năm tiếp theo, hầu hết thời gian trong ngày em bị xích chặt vào một khung cửi dệt thảm, ngồi làm việc hết giờ này sang giờ khác. Khi em lên 12 tuổi, em được tự do và bắt đầu đi khắp nơi trên thế giới vận động cho chiến dịch chống sự tàn bạo của tệ nạn bóc lột sức lao động trẻ em. Vào hôm Chủ nhật, Iqbal bị bắn chết khi cậu bé cùng hai người bạn đang đạp xe đạp trong ngôi làng Muridke của mình, cách thành phố Lahore khỏang 35 cây số về phía đông. Một số người tin rằng cái chết của em là do những kẻ tức giận trong ngành công nghiệp dệp gây ra, bọn họ đã nhiều lần đe dọa khóa miệng nhà họat động xã hội trẻ tuổi.

Sau khi đọc xong bài báo, đầu óc tôi nảy sinh hàng lọat câu hỏi. Tại sao lại có cha mẹ nào bán con 4 tuổi làm nô lệ? Ai lại có thể xiềng trói một đứa bé vào khung cửi? Tôi không tìm ra được câu trả lời cho mình. Lúc đó, tôi thật sự muốn nói chuyện với anh Marc, người anh trai lớn hơn tôi 6 tuổi, nhưng anh tôi đang đi học đại học ở xa. Tôi biết ngay cả khi Marc không biết câu trả lời, ít nhất anh ấy cũng biết đi tìm chúng ở đâu. Nhưng ngày hôm đó, tôi phải tự xoay sở một mình.

Sau buổi học ngày hôm ấy, tôi đi đến thư viện công cộng và vục đầu vào chồng báo và tạp chí. Tôi đọc được tin về các trẻ em tuổi còn nhỏ hơn tôi mà phải ngồi làm thảm hết giờ này qua giờ khác trong những căn phòng tối tăm thiếu ánh sáng. Tôi tìm thấy những câu chuyện về đứa bé còng lưng làm việc như nô lệ trong những hầm mỏ dưới mặt đất để đưa than lên trên mặt đất. Có những bản báo cáo kể về những công nhân chưa đến tuổi thành niên bị chết hay tàn tật vì những vụ nổ ở các nhà máy làm pháo bông. Đầu tôi quay cuồng, tôi chỉ là một đứa bé sống ở ngọai ô, và như những đứa bé thuộc gia đình trung lưu khác, tôi và bạn tôi phần lớn thời gian chỉ biết chơi bóng rổ và trò chơi điện tử. Những chuyện này vượt quá tầm hiểu biết của tôi.

(more…)

January 5, 2009

Đây không phải là nô lệ thì là cái gì?

Filed under: Kiến thức xã hội — HTQ @ 1:45 am

January 4, 2009

Đây không phải là nô lệ thì là cái gì?

By NICHOLAS D. KRISTOF

PHNOM PENH, Cambodia

Việc Barack Obama trở thành tổng thống đánh dấu sự thành công của nước Mỹ vượt qua được những tàn dư còn sót lại của thời kỳ nô lệ, vì vậy ông ta sẽ làm được một việc thật sự có ý nghĩa nếu ông đi đầu trong công cuộc bãi bỏ tệ nạn buôn người trong thế kỷ 21— như nạn buôn bán trẻ em vào các nhà chứa.

Bất cứ ai nghĩ rằng tôi đã nói phóng đại khi mô tả nạn buôn người cho mục đích mại dâm thì nhìn vào khuôn mặt tàn tật của cô gái vị thành niên Long Pross sẽ hiểu.

Nhìn nghiên từ bên trái, Pross trông bình thường, yêu đời, với một khuôn mặt dễ thương và nụ cười vui vẻ. Nếu nhìn từ phía bên kia, bạn sẽ thấy cô bé đã bị chủ nhà chứa móc mất mắt phải.

(more…)

January 1, 2009

Đằng sau những nụ cười là …

Filed under: Kiến thức xã hội, Tin báo chí — HTQ @ 10:21 pm

The Evil Behind the Smiles
By NICHOLAS D. KRISTOF
January 1, 2009

Đàn ông phương Tây tìm đến các “khu đèn mờ” tại các quốc gia nghèo thường bị vây quanh bởi các em gái lứa tuổi vị thành niên thẹn thùng, bẽn lẽn cười, nắm áo kéo họ về phía nhà chứa. Những hình ảnh này khiến cho những người đàn ông tin rằng các em gái làm nghề này là do tự nguyện và trong một vài trường hợp suy đóan của họ là đúng.

Nhưng bất cứ ai muốn đánh giá cuộc sống của các em gái này qua nụ cười của họ thì nên nói chuyện với Sina Vann – vì cô từng là một trong những em gái cười thẹn thùng đó.

Sina là người Việt nhưng bị bắt cóc khi 13 tuổi và mang sang Cambodia, tại đó Sina bị đánh thuốc mê. Cô nói khi cô tỉnh dậy trên người không mảnh áo che thân và thấy máu trên giường bên cạnh một người đàn ông da trắng — cô không biết quốc tịch hắn ta—kẻ đã bỏ tiền mua sự trinh tiết của cô.

Sau đó cô bị nhốt trên tầng trên của một khách sạn đẹp đẽ và được đưa ra chào hàng cho đàn ông phương Tây và Cambodia giàu có. Cô cho biết cô bị đánh đập tàn nhẫn để buộc cô phải cười và cư xử một cách khêu gợi.

(more…)

December 15, 2008

On not winning the Nobel Prize

Filed under: Kiến thức xã hội — HTQ @ 7:54 pm

Tôi dịch trích một đọan văn từ bài diễn từ Nobel Văn chương của bà Doris Lessing.

Tôi đang đứng trên bậc cửa nhìn xuyên qua đám bụi mù, hướng về phía người ta nói với tôi là vẫn còn cánh rừng chưa bị đốn. Ngày hôm qua xe chúng tôi chạy qua hàng mấy dặm chỉ nhìn thấy tòan gốc cây và tro tàn của một khu rừng tuyệt vời nhất mà năm 56 tôi được chứng kiến, tất cả giờ đây đều bị tàn phá. Người ta cần phải ăn. Họ cần có củi để đốt.

Đây là vùng đông bắc Zimbabwe vào những năm đầu thập niên 80, và tôi đang trong chuyến đi thăm một người bạn là giáo viên một trường học ở London. Anh ta có mặt ở đây “để giúp đỡ châu Phi,” nói theo cách chúng tôi vẫn thường dùng. Là một con người có chút lý tưởng, những gì anh thấy tại ngôi trường này khiến anh bị shock và rơi vào trạng thái trầm uất không dễ gì hồi phục. Ngôi trường này, giống như mọi ngôi trường khác, được xây sau khi Zimbabwe được độc lập. Trường có 4 phòng học lớn xây bằng gạch đứng cạnh nhau, một hai ba bốn, với một phòng nhỏ bằng ½ ở cuối được dùng làm thư viện. Bên trong các phòng học này là các bảng đen, nhưng bạn tôi giữ phấn trong túi, nếu không thì chúng sẽ bị lấy trộm. Lớp học không có bản đồ thế giới, không có quả địa cầu, không sách giáo khoa, sách bài tập, hay bút bi. Trong thư viện chẳng hề có sách thuộc lọai sách học sinh muốn đọc, chỉ có các tập sách dày cộm từ các trường đại học Mỹ gởi sang, nhấc lên còn khuông muốn nổi, vì chúng là đồ thải ra từ các thư viện người da trắng, hoặc chỉ có các tiểu thuyết với tựa đề như Cuối tuần ở Paris (Weekend in Paris) hay Hạnh phúc tìm được tình yêu (Felicity Finds Love).

… Bạn tôi chẳng có đồng xu nào vì mọi người từ học sinh cho đến giáo viên đều mượn tiền của anh khi anh nhận được lương và có lẽ họ sẽ chẳng bao giờ hòan trả. Học sinh của trường nằm trong độ tuổi từ 6 đến 26, bởi vì có một số không được học khi còn nhỏ và giờ muốn học bù. Một số học sinh mỗi buổi sáng phải đi bộ hàng mấy dặm, cho dù trời nắng hay mưa, băng qua sông. Học sinh không thể làm bài tập về nhà vì trong làng không có điện, và người ta không thể học bằng ánh sáng của một thanh củi đốt. Các em gái phải gánh nước và nấu ăn trước khi đi học và sau khi đi học về.
(more…)

March 22, 2008

Tiền không làm bạn hạnh phúc, trừ khi …

Filed under: Kiến thức xã hội — HTQ @ 12:14 am

Theo bài viết này, đăng trên boston.com ngày hôm nay 21-3-2008, thì tiền có thể làm bạn hạnh phúc nếu bạn dùng số tiền đó để lo cho người khác.

Đã từ lâu qua thí nghiệm người ta biết rằng trừ khi bạn nghèo thê thảm, nếu không thì việc có thêm một số tiền không làm bạn cảm thấy hạnh phúc lên được mấy. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thiết rằng có lẽ là vì chúng ta dùng tiền để chi tiêu mua sắm cho cá nhân. Nếu dùng tiền đó để đóng góp cho các tổ chức từ thiện hoặc mua quà cho người thân kết quả sẽ khác?

Họ đem giả thiết trên ra thử nghiệm tại một công ty cung cấp thiết bị y tế ở Boston bằng cách cho các nhân viên một món tiền thưởng trung bình là $5000 và đo lường mức độ hạnh phúc của những nhân viên này trước và sau khi có tiền thưởng. Kết quả thu được là như sau, “khỏang tiền lớn hay nhỏ là không quan trọng và không có quan hệ gì đến cảm giác hạnh phúc, nhưng khỏang tiền bạn chi tiêu cho người khác lại có thể cho biết bạn sẽ cảm giác hạnh phúc như thế nào.”

Trước khi cho tiền, những nhân viên này được yêu cầu trả lời câu hỏi sau: “Do you feel happy in general?” bằng cách chọn 1 trong 5 cấp độ hạnh phúc sau: yes, most of the time, sometimes, rarely, or no.

Sau khi đã sử dụng số tiền, các nhân viên được yêu cầu trả lời lại câu hỏi trên và các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng những người bỏ 1/3 khoản tiền thưởng cho người khác có thể gia tăng mức độ hạnh phúc lên một bậc.

Các nhà nghiên cứu tìm cách trả lời cho hiện tượng trên như sau: người Mỹ có thói quen chi tiêu cho bản thân, nhưng các nghiên cứu đã cho thấy cảm giác hạnh phúc có được từ một căn nhà to hơn hay tivi to hơn nhanh chóng giảm dần khi người ta đã quen với sự hiện diện của chúng, trong khi đó thì mời một người bạn đi ăn trưa chẳng hạn, lại đem lại những cảm giác khác và tạo nên những cảm xúc dễ chịu kéo dài lâu hơn.

Vậy tại sao những người bình thường lại chẳng bao giờ đóan được rằng dùng tìền tiêu cho người khác là một phương pháp đáng tin tưởng dẫn đến hạnh phúc? Câu trả lời là do nền văn hóa tiêu dùng cùng các quảnng cáo hàng ngày tấn công vào bộ não chúng ta khiến chúng ta tin rằng hạnh phúc đến từ tiêu thụ.

December 26, 2007

Phản ứng của Nhật hồi thế kỷ 19 trước hiểm họa ngọai xâm

Filed under: Kiến thức xã hội — HTQ @ 3:45 pm

 

Mùa hè năm 1853, chỉ huy hạm đội tàu chiến Mỹ Mathew Perry cùng mười chiến thuyền tiến vào hải phận nước Nhật, mang theo một lá thư của tổng thống Mỹ Fillmore gởi cho Nhật Hòang. Lá thư yêu cầu Nhật thiết lập quan hệ ngọai giao với Mỹ và cho phép các tàu buôn, tàu đánh cá của Mỹ được sử dụng các hải cảng của Nhật để trao đổi hàng hóa, sửa chữa và tiếp nhiên liệu. Nói một cách đơn giản, lá thư của tổng thống Mỹ yêu cầu Nhật chấm dứt chính sách “bế quan tỏa cảng” vốn đã được Nhật thực thi trong hơn 200 năm.

Đòan thuyền dưới sự chỉ huy của Perry tiến vào Vịnh Edo (giờ là vịnh Tokyo) mà không gặp phải một sự kháng cự nào. Đầu tiên phía Nhật từ chối không tiếp Perry và yêu cầu Perry cùng hạm đội Mỹ rút ra khỏi vịnh Edo và đi đến cảng Nagasaki vì đó là cảng duy nhất tiếp nhận tàu nứơc ngòai. Perry cương quyết từ chối và ép buộc các viên chức đại diện phía Nhật phải chấp nhận lá thư của tổng thống Fillmore, đồng thời “hứa hẹn” mùa xuân sang năm sẽ quay lại nhận câu trả lời.

(more…)

November 17, 2007

New Orleans-Kobe- Mumbai-Viet Nam

Filed under: Kiến thức xã hội, Việt Nam — HTQ @ 7:12 pm

Chuyện về New OrleansKobe thì tôi đã post ở đây rồi. Giờ chỉ kể thêm câu chuyện về dân thành phố Mumbai, Ấn Độ và liên hệ đến tình trạng hiện thời ở Việt Nam.

Mumbai

Theo nhà báo Suketu Mehta viết trên Yaleglobal Online: Vào ngày 27 tháng 7, 2005, thành phố Mumbai, Ấn Độ trải qua một trận mưa lớn nhất trong lịch sử. Chỉ trong vòng một ngày nó phải hứng chịu một lượng nước mưa cao gần 1 mét, khiến hàng trăm người dân phải chết đuối. Nhưng không giống như New Orleans sau cơn bão Katrina, Mumbai không xảy ra tình trạng hỗn loạn, vô trật tự đến mức gây báo động. Mặc dù thiếu vắng sự hiện diện của cảnh sát, tỉ lệ tội phạm không hề gia tăng ở Mumbai trong thời gian xảy ra cơn lũ. Lý do là vì người dân thành phố không có thời gian đi hôi của, cướp bóc và hãm hiếp lẫn nhau: họ đang còn bận rộn tham gia công cuộc cứu nạn. Những người dân sống tại các khu nhà ổ chuột đang bận ra xa lộ đưa những người bị mắc kẹt trong cơn mưa về nhà và dành cho họ một chỗ tá túc trong những căn nhà tồi tàn vốn đã không lấy gì làm rộng rãi của họ (trung bình một căn phòng của những người dân lam lũ này là chốn nương thân của 7 mạng người lớn). Nhiều người dân tình nguyện đang bận lội nước cao đến ngang hông để mang thực phẩm đến cho 150.000 người đang bị mắc kẹt tại các nhà ga xe lửa. Hàng đoàn người đang bận rộn nắm tay nhau thành một dây chuyền dài để cứu những người còn bị kẹt trong các khu vực chìm trong nước lũ.

 

(more…)

August 25, 2007

Constitutional Law for Public Managers

Filed under: Chuyện nước Mỹ, Kiến thức xã hội — HTQ @ 2:58 am

Bạn tôi, tác giả bài College Reading Skills, vừa mới hoàn tất công việc TA cho hai khóa học hè ở trường. Qua hai khóa học này, bạn tôi học được một số kiến thức bổ ích về hệ thống luật Mỹ và muốn chia sẻ một số thông tin với mọi người. Do hệ thống luật Mỹ quá khác biệt với hệ thống luật Việt Nam, việc dịch những khái niệm hay tên gọi của các thể chế, quy trình pháp lý của Mỹ sang tiếng Việt là chuyện không thể. Vì vậy tòan bài được viết bằng tiếng Anh.

Không hiểu bằng cách nào anh ta có thể “ngốn” mấy văn bản pháp luật này được? Có lần tôi phải đọc một cuốn sách viết về lịch sử luật pháp Mỹ, đọc được vài chương đầu, tôi bỏ cuộc. Sách về luật có nhiều chi tiết rối rắm và phức tạp. Đọc nhức đầu quá :)

~.~.~

Constitutional Law for Public Managers

This summer is hectic, tiring, but intellectually rewarding for me. I worked as a Teaching Assistant for two courses: Public Budgeting and Constitutional Law for Public Managers. The first course is less stressful because I have taken it. That cannot be said of the second course. It is really demanding as its material is quite new to me. As the course goes along, I acquire tremendous confidence that I have never felt. Confidence comes not just from my guidance of a class of 25 Masters of Public Administration students three times a week, but from my better understanding of what is meant by “American” human rights and how they play out in practice. Following are some striking points from the course I would like to share with you.

1/ Constitution law in America is not elusive.

The term “Constitution Law” most likely conjures nothing but vagueness in almost all of us. It is conceivable as we can hardly see it “in action.” On the contrary, articles and clauses in the U.S. Constitution, which is different from state constitutions, do serve as a scaffold to shore up an American’s liberties and basic human rights. As the “supreme law of the land,” the U.S. Constitution (or, the Constitution for short) does not have laws (or statutes) for further elaboration. Statutes are normally drafted to regulate social relationships with no element of government, or “state action.” Constitution Law is so important that it is a required course for first-year law students in all American law schools.

(more…)

August 2, 2007

Người châu Á có biết tư duy?

Cách đây vài ngày tôi ghé qua qua trang báo TT Online và tìm thấy trong mục Thế Giới – Chuyện Chiều Thứ 7 bài sau:

Người châu Á có thể suy nghĩ?

Đó là bài trích dịch một cuộc phỏng vấn giữa Kishore Mahbubani, tác giả cuốn “Can Asians think?”, và tạp chí salon.com. Bài phỏng vấn được đăng trên salon.com ngày 25-3-2002, một năm sau khi cuốn “Can Asians think” được xuất bản lần thứ nhất. Bạn có thể đọc toàn bài phỏng vấn trên tại đây.

1. Mặc dù bài phỏng vấn diễn ra cách đây hơn 5 năm, nội dung cuộc phỏng vấn, hay nói cho đúng hơn là nội dung cuốn sách (vì đa số những quan điểm, lập luận Mahbubani trình bày trong cuộc phỏng vấn đã được tác giả nêu ra trong cuốn sách) vẫn còn giá trị đối với thời điểm chúng ta đang sống năm 2007.

2. Bạn cần chú ý đến tựa đề của cuốn sách, nó là một câu hỏi, “Can Asians think?”. Tháng 5/1999 tap chí Times của Mỹ có đăng một bài viết nhan đề, “It’s True. Asians Can’t Think”. Chỉ cần nhìn vào hai tựa đề là ta có thể suy đoán được lập trường khác nhau giữa hai tác giả.

(more…)

Next Page »

Blog at WordPress.com.