No-Mind

April 10, 2008

Non sông gấm vóc hay là “Miếng da lừa”

Filed under: Việt Nam — HTQ @ 12:57 pm

Thứ năm, 10/4/2008, 07:47 GMT+7

Nguon: http://www.tuanvietnam.net/news/InTin.aspx?alias=tulieusuyngam&msgid=3423

Và từ lúc nào chưa kịp nghĩ ra thì non sông gấm vóc đã trở thành “tấc đất tấc vàng” theo đúng nghĩa đen của nó. Chẳng những thế, mối tấc đất ấy tăng giá từng ngày để trở thành chục tấc, trăm tấc vàng. Thật là chóng mặt.

Bây giờ đây, tất cả 80 triệu người dân Việt Nam, từ trẻ con đến bà già, từ quan chức đến anh bần cố trên rừng đều biết rất rõ rằng chẳng có gì làm giàu dễ và nhanh như là đi buôn nhà đất. Mới phong thanh có một dự án mở một con đường bé tí bé teo nào đó tại văn phòng xã tung ra, là lập tức người ta đã cắm đất, lấn chiếm, đã trao đi đổi lại, môi giới thì thụt và đã có thể giàu lên tức thì.

Còn các dự án cấp nhà nước thì khỏi phải nói. Chỉ mới có tin đồn nhảm đã có thể làm sôi động cả một vùng đất, đã có thể đâm chém đánh nhau và đã có thể lên chức, mất chức như chơi.

Thế là bất chấp nghèo khó, lạc hậu, chậm tiến, bất chấp các doanh nghiệp nhà nước trì trệ thua lỗ triền miên, bất chấp ngành công nghiệp ôtô đã mấy mươi năm vẫn chưa lắp nổi mấy cái xe hơi lạc hậu, bất chấp hệ thống đường giao thông lộn xộn nhất thế giới, bất chấp nền giáo dục lạc hậu bê bối thì các công trình xây dựng nhà ở của Việt Nam vẫn đang mọc lên như nấm, mọc lên khắp nơi không cần quy hoạch không cần thiết kế, làm hoa mắt tất cả những nhà nghiên cứu kinh tế vĩ mô trên thế giới.

(more…)

March 31, 2008

Chân dung phụ nữ Việt (2)

Filed under: Việt Nam — HTQ @ 1:24 am

Đây cũng là một người phụ nữ có cá tính mạnh và có những điểm đáng khâm phục. Giống như chị Tạ Ngọc Thảo, chị Lê Lan Anh cũng là một doanh nhân thành đạt, đang hưởng thụ một cuộc sống giàu sang nhưng quyết định chuyển sang việc viết lách. Khác với chị TNThảo, chị LLAnh từ bỏ hẳn con đường kinh doanh để chuyển sang viết văn chuyên nghiệp. Trong bài phỏng vấn mục Người đương thời trên báo Tuổi Trẻ, chị thố lộ một số cảm nghĩ sau:

[trích] Nếu tôi là một doanh nhân yêu nước, mỗi năm tôi đóng thuế hàng tỉ đồng và tạo công ăn việc làm cho vài chục, thậm chí vài trăm người, điều đó cũng rất tốt. Nhưng tôi lại thuộc loại người không ham quá nhiều tiền. Tiền với tôi chỉ có ý nghĩa khi tôi còn dùng được nó. Vậy nên tôi dừng lại. Và quyết định chuyển tình yêu nước sang… văn chương. Tôi chẳng có chút ảo tưởng nào về những giá trị ảo tạo nên vinh quang ảo của văn chương. Tôi không nghĩ viết văn là “sang”. Tôi viết chỉ là để truyền tình yêu nước mà lắm lúc tôi cảm thấy nó như vỡ tung lồng ngực mình ra, cho những người đồng cảm.

Có vẻ như chị LLAnh hiểu được (1) giới hạn mà đồng tiền có thể mang lại cho con người và (2) ngòai tiền bạc ra con người còn cần quan tâm đến những giá trị phi-vật-chất khác. Để làm giàu kiến thức (chứ không phải làm giàu túi tiền) và chuẩn bị cho việc viết văn, chị đã đăng ký theo học một trường ở Mỹ trong hai năm để tìm hiểu và tích lũy kinh nghiệm về cuộc sống ở Mỹ để làm đề tài cho cuốn tiểu thuyết của mình.

[trích] Sau 20 năm lăn lộn với thương trường, từ một giáo viên dạy ngoại ngữ, tự mày mò học buôn bán kinh doanh, có một chút thành công, phải đi và được đi nhiều nơi trên thế giới, càng ngày tôi càng nhận ra một điều: khi con người đã tạm đủ với đời sống vật chất, khi xã hội đã phát triển đến một mức nào đó người ta càng có nhu cầu hướng về cội nguồn và chia sẻ với nhau những giá trị tưởng như rất cao xa: lòng yêu nước hay niềm tự hào về quê hương chẳng hạn.

Cụm từ “lòng yêu nước” và “niềm tự hào quê hương” có ý nghĩa khá trừu tượng và mơ hồ đối với tôi, và tôi không hiểu đó là cảm nghĩ thật sự của chị hay chị chỉ phát biểu cho “đúng đường lối chính sách”. Tôi nghĩ một nhà văn giỏi sẽ có thể diễn đạt những ý tưởng cũ kỹ bằng những cách thức mới mẻ từ những góc nhìn phong phú và đa dạng hơn. Thời buổi này tôi nghĩ khó có thể lôi cuốn lớp trẻ chỉ bằng những cụm từ trừu tượng “yêu nước”, “tự hào về quê hương”.

[trích] Tôi đã đeo balô, mặc áo khoác sinh viên giá 25 USD đi bộ đến ga tàu điện ngầm và đã bị cướp, balô toàn sách, không có gì đáng tiền, nhưng tôi đã đánh nhau với tên cướp để giành lại bằng được đồ của mình.

Khi cảnh sát xuất hiện và tên cướp bỏ chạy, tôi bò dậy từ đống tuyết, tự nhiên trong đầu tôi bật ra một bài hát mà 40 năm nay tôi chưa hát lại, bài hát mà tất cả những ai ở thế hệ tôi đi học trên miền Bắc đều biết. Lời của nó có những câu thế này: “Em lớn lên trong kháng chiến – em ăn rau và cải – trồng trên đống tro tàn – trên nền trời đen cháy – hàng cột nhà thành than…”. Tôi phát hiện trong mỗi con người đều có những phút bừng tỉnh như thế, chẳng có gì bị quên lãng, nếu nó thật sự có ý nghĩa.

Ở điểm đánh nhau với tên cướp ở tàu điện ngầm này, tôi vừa khâm phục mà cũng vừa “thương hại” sự can đảm không đúng chỗ của chị, chỉ vì balô sách mà đùa giỡn với tính mạng của mình. Ở chỗ tôi, sinh viên được khuyến khích khi bị chặn đường cướp thì nên tự nguyện đưa ví tiền cho tụi cướp mà không nên chống cự, mạng sống của ta quan trọng hơn vài chục/trăm đồng đôla. Ở xứ này, bạo lực cướp bóc không phải là chuyện đùa. Tôi không khuyến khích các bạn trẻ VIệt Nam noi theo gương “anh hùng không đúng chỗ” của chị LLAnh.

[trích] Đã có nhiều người Mỹ viết sách về chiến tranh VN với người Mỹ là nhân vật chính, cũng có rất nhiều nhà văn VN viết về chiến tranh với người VN làm trung tâm, nhưng có lẽ lần đầu tiên một tiểu thuyết VN do người VN viết lại lấy nhân vật trung tâm là một tù binh Mỹ – nguyên mẫu từ John McCain. Vẫn biết là không nên nói trước điều gì quá xa, nhưng tôi tin một cách bướng bỉnh rằng Oliver Stone mà đọc sách của tôi cũng sẽ muốn làm phim đấy (!).

Rất tự tin. Rất có cá tính (kiểu Mỹ!). Dám lấy người Mỹ làm nhân vật trung tâm cho chuyện và tin tưởng sẽ chinh phục được Oliver Stone. Hy vọng sự tự tin của chị được dựa trên những nền tảng vững chắc, không giống như sự tự tin của Bộ trưởng Ngoại giao VN Nguyễn Cơ Thạch khi ông tuyên bố vào năm 1994, nhân dịp Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam, rằng hành động này chẳng có ý nghĩa gì nhiều đối với nền kinh tế Việt Nam bởi vì “việc bãi bỏ cấm vận không giúp Việt Nam gia nhập thế giới … mà giúp Mỹ gia nhập thế giới ở Việt Nam.” :-) (“Lifting the embargo does not allow Vietnam to join the world . . . it allows the U.S. to join the world in Vietnam.”)

March 22, 2008

Tiền không làm bạn hạnh phúc, trừ khi …

Filed under: Kiến thức xã hội — HTQ @ 12:14 am

Theo bài viết này, đăng trên boston.com ngày hôm nay 21-3-2008, thì tiền có thể làm bạn hạnh phúc nếu bạn dùng số tiền đó để lo cho người khác.

Đã từ lâu qua thí nghiệm người ta biết rằng trừ khi bạn nghèo thê thảm, nếu không thì việc có thêm một số tiền không làm bạn cảm thấy hạnh phúc lên được mấy. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thiết rằng có lẽ là vì chúng ta dùng tiền để chi tiêu mua sắm cho cá nhân. Nếu dùng tiền đó để đóng góp cho các tổ chức từ thiện hoặc mua quà cho người thân kết quả sẽ khác?

Họ đem giả thiết trên ra thử nghiệm tại một công ty cung cấp thiết bị y tế ở Boston bằng cách cho các nhân viên một món tiền thưởng trung bình là $5000 và đo lường mức độ hạnh phúc của những nhân viên này trước và sau khi có tiền thưởng. Kết quả thu được là như sau, “khỏang tiền lớn hay nhỏ là không quan trọng và không có quan hệ gì đến cảm giác hạnh phúc, nhưng khỏang tiền bạn chi tiêu cho người khác lại có thể cho biết bạn sẽ cảm giác hạnh phúc như thế nào.”

Trước khi cho tiền, những nhân viên này được yêu cầu trả lời câu hỏi sau: “Do you feel happy in general?” bằng cách chọn 1 trong 5 cấp độ hạnh phúc sau: yes, most of the time, sometimes, rarely, or no.

Sau khi đã sử dụng số tiền, các nhân viên được yêu cầu trả lời lại câu hỏi trên và các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng những người bỏ 1/3 khoản tiền thưởng cho người khác có thể gia tăng mức độ hạnh phúc lên một bậc.

Các nhà nghiên cứu tìm cách trả lời cho hiện tượng trên như sau: người Mỹ có thói quen chi tiêu cho bản thân, nhưng các nghiên cứu đã cho thấy cảm giác hạnh phúc có được từ một căn nhà to hơn hay tivi to hơn nhanh chóng giảm dần khi người ta đã quen với sự hiện diện của chúng, trong khi đó thì mời một người bạn đi ăn trưa chẳng hạn, lại đem lại những cảm giác khác và tạo nên những cảm xúc dễ chịu kéo dài lâu hơn.

Vậy tại sao những người bình thường lại chẳng bao giờ đóan được rằng dùng tìền tiêu cho người khác là một phương pháp đáng tin tưởng dẫn đến hạnh phúc? Câu trả lời là do nền văn hóa tiêu dùng cùng các quảnng cáo hàng ngày tấn công vào bộ não chúng ta khiến chúng ta tin rằng hạnh phúc đến từ tiêu thụ.

March 21, 2008

Chân dung phụ nữ Việt (1)

Filed under: Việt Nam — HTQ @ 11:24 pm

Tình cờ tôi đọc được bài viết về chuyện đội nón bản hiểm của chị Tạ Thị Ngọc Thảo. Bài viết có nhiều luận điểm rất sắc bén và thể hiện một tính cách rất bộc trực và can đảm. Bị ấn tượng, tôi bèn tìm hiểu thêm xem tác giả bài viết là ai thì khám phá ra được chân dung một người phụ nữ Việt Nam rất đáng ngưỡng mộ.

Với cương vị là tổng giám đốc của một công ty chuyên kinh doanh đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, tôi đoán cuộc sống chị vô cùng bận rộn ngập đầu trong công việc. Ấy vậy mà với cách tư duy độc đáo “thóat ra ngòai lồng kính” chị đã tìm cho mình được phương pháp giải quyết hiệu quả để có thể có thể thư thả trong cuộc sống cá nhân, dành thời gian cho gia đình, tham gia công tác xã hội, tập thiền, tập khí công và dành khá nhiều thời gian cho việc viết lách cho các báo. Đọc qua các bài viết của chị, mặc dù chị không nói rõ chi tiết cuộc sống lúc chưa thành đạt nhưng tôi đoán chị đã phải bương chải và va chạm nhiều mới có được ngày hôm nay.

Điều khiến tôi ngưỡng mộ ở chị là lối nói thẳng và trực tính của chị, không sợ làm mất lòng người nghe vì chúng được dựa trên những quan điểm và lý luận vững chắc. Có thể nói chị là một “feminist” điển hình theo kiểu phương tây. Tự khẳng định giá trị của mình và của giới nữ, không e ngại, nể nang sợ làm mất lòng phái nam giới. Chẳng hạn, trong một cuộc trả lời trực tuyến bạn đọc báo Tuổi Trẻ chị được đặt một câu hỏi sau:

Người ta nói: đằng sau những người đàn ông thành đạt đều có bóng dáng của những người phụ nữ, những người vợ đảm đang, hy sinh cho chồng. Vậy có phải đằng sau các chị là điều ngược lại?

Một người phụ nữ bình thường chắc chắn sẽ nói những ý đại lọai là, “Vâng, chồng và con động viên, giúp đỡ tôi cho tôi thành công”. Nhưng chị Thảo trả lời như sau:

“Đằng sau sự thành công của người phụ nữ có bóng dáng của Nhà nước tạo điều kiện, có cộng đồng tạo môi trường và có cả gia đình hậu thuẫn. Thiếu một trong ba điều này, có thể phụ nữ cũng sẽ thành công nhưng ở đỉnh thấp, khó cạnh tranh phụ nữ toàn cầu”.

Có ba câu trả lời khác của chị mà tôi đánh giá là câu trả lời hay, có khả năng phá vỡ lối tư duy cũ kỹ của phái nam nếu như họ là những người có đầu óc cởi mở:

Hỏi: Tôi không đồng ý với ý kiến của chị Thảo khi chị nói rằng, phụ nữ đừng tự ru ngủ mình với việc nuôi con khỏe dạy con ngoan. Bởi trên hết, phụ nữ tượng trưng cho nguồn cội của mọi sự bắt đầu. Nếu phái nữ không làm tốt thiên chức ấy, phải chăng chúng ta đã xóa mờ khái niệm về giới, về những thiên chức! Mỗi người một vai trò, làm tốt vai trò của mình không hơn sao so với việc cố ganh đua vị trí, vai trò của nhau. (Trinh Lâm, 33 tuổi)

- Chị Tạ Thị Ngọc Thảo: Với người phụ nữ Việt Nam của chúng tôi, niềm hạnh phúc lớn là niềm hạnh phúc với gia đình, là nuôi con khỏe, dạy con ngoan. Nhưng, phụ nữ Việt Nam thời nay, thời toàn cầu hóa, không tự cho phép mình sống như thế.

Việt Nam của chúng ta là một đất nước có GDP tăng trưởng cao vào loại nhì thế giới nhưng lại là một trong những nước kém phát triển (GDP 720 USD/người). Phải chăng, đây là điều hổ thẹn của người Việt Nam chúng ta? Và nỗi hổ thẹn này theo tôi giới nam và giới nữ bằng nhau (nếu không muốn nói rằng phụ nữ hổ thẹn hơn vì chúng tôi nhạy cảm hơn). Vì thế, chúng tôi nào dám ru ngủ mình với niềm hạnh phúc riêng tư, trong khi chúng tôi có khả năng đóng góp cho xã hội nhiều lần hơn như thế.

Hỏi: Tôi cũng thừa nhận rằng về mặt tâm lý nói chung, đàn ông thường có cảm giác tự ái khi cảm thấy bị phụ nữ qua mặt. Nhưng xét về lý trí, tôi nghĩ rằng là có xu hướng ngược lại. Thật ra theo tôi, vấn đề là ở chỗ: Những phụ nữ thành đạt về mặt xã hội, đa số thường giảm đi nữ tính trong các tiếp xúc với người khác giới (có thể do ảnh hưởng của sự thành đạt ấy), đôi khi một số có vẻ gì đó như là lãnh đạo. Tôi dám đảm bảo: 100% đàn ông không thể có hứng thú với những phụ nữ như thế. Không biết suy nghĩ của quí vị thế nào? Có thể cho mình một tầm nhìn nào khác hơn không? (Lê Đình Trung, 28 tuổi, ldtrungtv@)

- Chị Tạ Thị Ngọc Thảo: Nhà văn hóa Nguyễn Hiến Lê có viết: “Trong xã hội có hai loại người: (i) yêu vì mình, (ii) yêu vì người”.

Như tôi hiểu, loại người “yêu vì mình” là muốn người bạn đời của mình yêu mình theo kiểu của mình muốn. Loại “yêu vì người” là vui trong niềm vui của người bạn đời, hạnh phúc trong niềm hạnh phúc của người bạn đời và xem sự thành công của người bạn đời là sự thành công lớn của bản thân và gia đình mình. Thưa anh Lê Đình Trung, anh thuộc loại người nào trong hai loại người trên?

Hỏi: Em thích nhất tính cách cần cù, chịu thương chịu khó của người phụ nữ VN. Các chị nghĩ gì khi mà hình như là tính cách đó ngày càng bị mai một ở lớp phụ nữ trẻ ngày nay, nhất là đối với thế hệ 8X? (Đoàn Thưởng, 28 tuổi, thuongdhx@)

- Chị Tạ Thị Ngọc Thảo: Cần cù, chịu khó là một trong những đức tính tốt của người phụ nữ Việt Nam; nhưng nếu những đức tính quý khác của người phụ nữ bị lãng quên, chỉ còn đọng lại trong nam giới tính cần cù, chịu khó thì có lẽ đàn ông thời nay không cần lấy vợ làm gì, chỉ cần thuê một người giúp việc nữ là đủ.

-.-.-

Hy vọng ngòai việc viết báo, trả lời báo để “đả thông” tư duy cho phái nam, chị Thảo còn có những dự án cụ thể khác để giúp nâng cao cơ hội và năng lực lãnh đạo cho phái nữ Việt Nam.

Recommend những bài viết ấn tượng của chị Thảo:

February 15, 2008

Thời đại vô tri-lý ở Mỹ

Filed under: Chuyện nước Mỹ — HTQ @ 1:58 am

Vào ngày 11-9-2001, sau khi hai tòa Tháp Đôi ở New York bị máy bay khủng bố đánh sập, bà Jacob đi bộ về nhà, đầu óc hoang mang và chấn động. Bà ghé vào một quán bar làm một ly rượu coctai để chấn tỉnh tinh thần. Ngồi gần bà là 2 người đàn ông mặc complê rất chỉnh tề đang trò chuyện với nhau. Lúc đầu bà tưởng hai người đàn ông đang so sánh vụ đánh sập tòa nhà Tháp Đôi với vụ Nhật Bản thả bom Trân Châu Cảng vào năm 1941, khiến Mỹ không còn con đường nào khác phải tuyên chiến với Nhật và tham gia vào Thế chiến chiến II. Cuộc đối thọai giữa hai người đàn ông xảy ra như sau:

“Vụ này giống hệt vụ Trân Châu Cảng,” người đàn ông thứ nhất nói.

Người kia hỏi, “Vụ Trân Châu Cảng là vụ gì?”

Người đàn ông thứ nhất trả lời: “Đó là khi phía Việt Nam thả bom xuống một hải cảng và gây phát động cuộc chiến Việt Nam.”

Nghe đến đây thì bà Jacob nảy sinh trong đầu ý định viết một cuốn sách phân tích và mổ xẻ tình trạng kém hiểu biết, bài xích tri thức (anti-intellectual), bài xích lý luận (anti-rational) trong nền văn hóa Mỹ. Cuộc sách vừa được xuất bản và có nhan đề: The Age of American Unreason.

Đọc thêm bài giới thiệu về cuốn sách ở đây.

January 18, 2008

Thơ về Bà Ngọai tôi

Filed under: Uncategorized — HTQ @ 11:07 pm

Dưới đây là các đoản thơ Mẹ tôi viết về Bà Ngoại…

DẤU LẶNG

Như chiếc lá vàng rơi rụng

Như hoa nở để rồi tàn

Như ve sầu lột xác

Như một cây khô

Không còn hút nhựa

Như một dấu chấm hết nhẹ nhàng.

Tại sao lại vật vã?

Tại sao lại đớn đau?

Tại sao lại gãy khúc?

Chia lìa?

Nếu tôi là Thượng Ðế

Thì chết

Như là một dấu lặng

Như đi vào một giấc ngủ bình yên

Với hoa hồng không bao giờ tàn rụng

Còn mãi vẻ tươi nguyên.

LÁ VÀNG RỤNG

Chiếc lá vàng đã rụng

Một sự sống chuyển mình

Dòng sông đời gãy nhịp

Thời gian trôi ngỡ ngàng!

Giọt đời đã cạn

Dầu hao đã tàn!

Ðó là Mẹ!.

Mẹ

Là một đời nhọc nhằn vất vả.

Mẹ

Là một đời khốn khó.

Cho tất cả

Vẫn thấy còn chưa đủ.

Ðó là mẹ.

Mẹ đã ra đi

Mẹ đã đi xa.

Ðó là con đường trở về nguồn cội.

Từ một điểm khởi đầu vô cùng bé nhỏ

Mẹ đã qua một hành trình dài ,

Một hành trình không dễ dàng,

Một hành trình mẹ không hề lựa chọn.

Một hành trình chạy theo số phận nghiệt ngã,

Một hành trình chạy theo tháng năm vật vã.

Những năm tháng chạy trong khói lửa ở chiến trường Quảng Trị,

Những năm lội bùn ở chiến trường Liên khu V,

Những năm chạy nuôi con ở nhà tù Côn Ðảo,

Ở trại giam Tổng Nha

Trại giam Biên Hòa.

Bàn chân mẹ đã lăn dài theo sỏi đá.

Bàn tay mẹ làm

Không hề ngơi nghỉ

Ðôi chân mẹ đi

Không hề dừng lại

Vì các con

Mẹ đã mỏi mòn.

Giọt đời đã cạn

Dầu hao đã tàn!

Ðó là mẹ.

Chiếc lá vàng đã rụng

Cho cây khô đâm chồi

Cho nụ đời ươm hoa .

Mẹ đang khởi đầu một hành trình mới

Một hành trình riêng của mẹ

Ðược chắp cánh từ nhiều ước mơ

Ðược chắc lọc từ một đời khổ hạnh

Từ những cuộc hành hương suốt cõi vô
thường.

Mẹ!

Vẫn là mẹ

Nhẹ nhàng lên

Trên cõi Vĩnh Hằng.

HOA THỞ

Hoa !

Hoa nhiều quá!

Một vòng hoa !

Một vòng hoa !

Lại một vòng hoa !

Một trái tim đã thôi đập!

Nhịp thở đã dừng!

Không!

Mẹ vẫn thở

Mẹ thở như hương bay

Mẹ thở như hoa nở.

Mẹ vẫn thở

Hơi thở của nhịp sống

Ngày đêm

Bất tận.

18h30

Ngày 6/1/2008

Bà Ngọai

Filed under: Uncategorized — HTQ @ 11:02 pm

Bài do em tôi viết để tưởng nhớ Bà Ngọai của chúng tôi.

————–

Bà Ngoại đã mất. Tôi đọc email của Mẹ gửi từ Da Lat. Tôi thấy nao nao trong lòng, tất cả những hình ảnh, những ký ức về Bà bỗng tràn về.

Tôi nhớ lần đầu tiên Mẹ dẫn tôi và các anh chị em lên Dalat thăm Bà Ngoại. Chiếc xe đò cũ kỹ chở người và hàng, hay chở hàng thêm người? Hàng hoá chất đầy trên mui, hàng chật ních các khoang hàng bên hông xe, hàng nhét đầy dưới chân hành khách. Cũng may là vẫn còn một vài khoảng trống giữa hai hàng ghế đủ để đặt thêm vài cái ghế phụ. Thời đó tôi là một con bé gầy gò ốm yếu, ngủ li bì trên xe, chỉ mở mắt ra để mửa. Những rừng thông, những ngọn đèo, những vườn trà dọc đường, tôi không có cơ hội thưởng ngoạn.

Nhà Bà Ngoại không xa bến xe là mấy. Từ chợ Da Lat đi ngang Hồ Xuân Hương thơ mộng, rẽ phải về phía nhà thờ con gà, đi thêm mươi phút là đến. Bậc tam cấp từ cổng dẫn vào nhà Bà mọc đầy hoa xác pháo. Chúng tôi vẫn thường ra hái những đài hoa hút lấy hút để nhuỵ của nó, dành ăn với những chị ong thợ.

Thời đó Bà ngoại ở với một người con gái, và hai người con trai, tức là dì và hai cậu của tôi, nhà toàn người lớn.

Bà tôi trồng đủ các loại rau trong vườn, nào là hẹ, húng quế, mồng tơi, nha đam, bạc hà, càng cua… Tôi không rõ càng cua có phải trồng hay tự mọc, chỉ nhớ rằng loại rau này đem trộn sống với một ít chanh, ít muối và xì dầu thì ngon tuyệt, ăn vào mát ruột. Có lần bà ngoại cho chúng tôi ăn một món rất lạ: hoa kim châm xào. Thú thật tôi không nhớ hương vị của nó thế nào, không hiểu đang ăn có bị cảm giác như kim châm châm vào bụng không, nhưng nhớ mãi món ăn có cái tên rất kêu đó.

Bà ngoại nói năng từ tốn, khuôn mặt Bà đầy những nếp nhăn thời gian, của những tháng ngày chạy loạn cực khổ bán chè trước nhà để kiếm sống, của những lần khó khăn đi thăm dì ở Côn đảo, của những tối ăn miếng thịt phải giấu không cho người hàng xóm biết, của những sáng tinh mơ gánh gánh su su nặng trĩu ra chợ bán, của những chiều ngồi bên cửa sổ ngóng trông cậu út chạy xe ngang nhà trên đường đi làm về… Bà ngoại tuy trải qua bao nhiêu trắc trở thăng trầm của cuộc sống nhưng lòng Bà vẫn không chai đá. Bà nhân hậu không hại ai, không gian dối bao giờ. Bà vẫn bảo chúng tôi: tiếng lành đồn gần tiếng xấu đồn xa; trăm năm bia đá cũng mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

Bà ngoại quan niệm miếng ăn do công sức mình cực khổ làm ra ăn mới sướng. Bà kể tôi nghe chuyện một ông vua kia ăn biết bao sơn hào hải vị thế gian nhưng vẫn không hài lòng, cho tìm món ngon của lạ trong trời đất. Một ngày kia có một người đến, nói rằng biết một món rất đặc biệt. Thế là vị khách được giữ lại trong cung. Ông ta bắc một nồi nước và bỏ một hòn đá vào. Nhà vua háo hức chờ đợi, suốt ngày chằng được ăn gì cả. Đến tối khi nhà vua đã đói lả, vị khách mới dâng một chén cơm và một bát nước nấu từ nồi nọ. Nhà vua ăn mà thấy ngon kỳ lạ. Triết lý dân gian vẫn được truyền tụng từ thế hệ này đến thế hệ kia qua những người bà, người mẹ như thế.

Bà ngoại tôi hết lòng lo cho con cái, nhất là cậu kế út. Bà có lần nói “con dại cái mang, lỗi của bà ngoại”. Tôi tội nghiệp cho những Bà Mẹ Việt Nam, không sống cho mình mà suốt đời tận tuỵ vì con. Tuổi trẻ của họ mất đi qua nhiều lần mang nặng đẻ đau, qua những tối ngồi thức canh con bệnh, qua bao năm tháng lo từng miếng ăn thức uống. Nhưng tôi cảm phục biết bao tấm lòng bao la của họ, như mặt trời mỉm cười chiếu sáng ấm áp, ngày này qua tháng nọ, không mệt mỏi.

Bây giờ Bà đã ra đi vĩnh viễn. Nguyện cho hương hồn Bà Ngoại an nghỉ dưới suối vàng.

San Jose, ngày 17 tháng một 2008

Anh hùng (phần 2)

Filed under: Phim-Truyện-Nhạc — HTQ @ 10:52 pm

“Bất kỳ ai nghĩ rằng người Việt Nam không có những cảm xúc của một con người bình thừơng hoặc cho rằng có cái gì đó ma quỷ (evil) ở họ cần phải đọc cuốn tiểu thuyết này”, đó là nhận xét của một nhà văn Mỹ về cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”.[1] Vì sao ông ta lại có nhận xét này? Vì sao có người Mỹ cho rằng người Việt Nam không có cảm xúc, cảm giác của một con người bình thừơng? Cái gì làm cho họ sợ người Việt Nam là ma quỷ? Vì sao phải đọc tác phẩm của Bảo Ninh mới có thể thay đổi được quan niệm này? Vậy còn những tác phẩm viết về cuộc chiến tranh này của rất nhiều nhà văn Việt Nam trước đó? Đâu là sự khác biệt giữa tiểu thuyết của Bảo Ninh và các nhà văn khác?

(more…)

January 13, 2008

Anh hùng (phần 1)

Filed under: Phim-Truyện-Nhạc — HTQ @ 1:53 am

Đố các bạn giữa “Unforgiven”, “The Twilight Samurai” và “Nỗi buồn chiến tranh” có điểm gì chung? Dám chắc là với đầu óc tinh tế, nhạy bén và sắc sảo, các bạn có thể kiếm được n điểm chung giữa chúng nhưng tôi hy vọng trong số n điểm chung đó có 2 điểm mà tôi sẽ nêu ra và phân tích dưới đây.
nullnull null

1. Thứ nhất, mặc dù khác nhau về thể loại, với “Unforgiven” và “Twilight Samurai” là phim trong khi “Nỗi buồn chiến tranh” là truyện, nhưng cả ba đều có thể được xếp vào lọai tác phẩm nghệ thuật có giá trị nhân văn cao.

2. Thứ nhì, mỗi một tác phẩm nghệ thuật trên có công phá vỡ một lối tư duy cũ kỹ, máy móc, phiến diện trong thể lọai của nó và đưa ra một lối tư duy nhân bản và tinh tế hơn về cái gọi là bản chất con người. Tôi sẽ phân tích cụ thể từng tác phẩm để minh họa điểm 2 này, bắt đầu bằng bộ phim “Unforgiven”.

(more…)

December 31, 2007

My New Year Resolution

Filed under: Giải trí nghiêm túc — HTQ @ 4:00 pm

Trong cuốn “Đường xưa mây trắng” của Thích Nhất Hạnh, chương 62, có kể câu chuyện sau. Năm đó Đức Phật 44 tuổi, Ngài gặp một phụ nữ xinh đẹp, con một gia đình giàu có. Cô ta đem lòng yêu mến Ngài nhưng mãi không thấy Đức Phật đối xử với mình có gì đặc biệt hơn người khác, tình cảm của cô dành cho Đức Phật chuyển thành lòng hận thù. Sau này khi trở thành thứ hậu của vua của một xứ, cô ta tìm mọi cách để gây khó khăn cho việc thuyết pháp của Đức Phật. Thấy vậy, một đại đệ tử của Phật đề nghị người đi hành đạo tại một xứ khác. Đức Phật không đồng ý với đề nghị này và giải thích: “… gặp khó khăn, ta không nên nản lòng. Phải từ trong môi trường khó khăn ấy mà tìm ra giải pháp ổn thỏa. […] Những người chửi rủa ta sẽ không làm tổn thương được ta và chí hướng ta nếu ta thực tập được phép xả; còn họ, họ sẽ phải chịu đựng những kết quả của sự chửi rủa của họ. Khi một người nhổ nước bọt lên trời với ý định làm bẩn người, trời đã không bị bẩn mà nước bọt sẽ rơi xuống mặt người nhổ nước bọt.” (more…)

« Previous PageNext Page »

Blog at WordPress.com.